Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

Đột tử - Một biến chứng tim mạch ở người đái tháo đường

Kiểm soát tốt đường huyết là điều hết sức quan trọng để phòng ngừa các bệnh lý liên quan đến đái tháo đường.


Cần kiểm soát tối ưu đường máu Có tới 50% bệnh nhân đái tháo đường bị tử vong ở lần nhồi máu cơ tim lần đầu tiên, do vậy phòng ngừa tiên phát các biến chứng tim mạch là một trong những mục tiêu điều trị chính ở các bệnh nhân đái tháo đường.
Bên cạnh tăng đường máu, các bệnh nhân đái tháo đường thường có một số bất thường khác như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tình trạng tăng đông máu...
Đái tháo đường týp 2 được xem là có nguy cơ tương đương với bệnh động mạch vành. Tuy nhiên, vì vữa xơ động mạch ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến do vậy cần đánh giá các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch ở tất cả các bệnh nhân đái tháo đường týp 2 để có chiến lược điều trị phù hợp.
Khám lâm sàng đánh giá mạch ngoại biên; Đo huyết áp mỗi lần thăm khám; Định lượng lipid máu lúc đói ít nhất mỗi năm 1 lần; Định lượng microalbumin niệu hay đạm niệu ít nhất mỗi năm 1 lần; Các bệnh nhân đái tháo đường týp 2 thường có các triệu chứng bệnh động mạch vành không điển hình do vậy nên làm điện tâm đồ lúc nghỉ cho tất cả các bệnh nhân.
Kiểm soát tối ưu đường máu làm giảm các biến chứng vi mạch hơn là các biến chứng tim mạch, nhưng làm giảm các yếu tố nguy cơ đã được chứng minh là làm giảm các biến chứng tim mạch ở các bệnh nhân đái tháo đường týp 2.
Kiểm soát trị số huyết áp
Tăng huyết áp rất hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bị các biến chứng vi mạch (bệnh võng mạc và bệnh thận) cũng như các biến chứng tim mạch (đột quỵ, bệnh ĐMV và mạch máu ngoại biên). Mục tiêu điều trị nhằm đạt trị số huyết áp < 130/80 mmHg.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc quan trọng nhất trong điều trị tăng huyết áp là đạt được trị số huyết áp mục tiêu. Nguyên tắc sử dụng thuốc hạ áp là nên bắt đầu với một thuốc liều thấp hoặc phối hợp các nhóm thuốc với liều thấp để vừa đạt được hiệu quả điều trị vừa làm giảm tác dụng phụ.
Có 5 nhóm thuốc thông dụng điều trị tăng huyết áp cho bệnh nhân đái tháo đường bao gồm thuốc lợi tiểu, chẹn bêta giao cảm, chẹn kênh canxi, thuốc ức chế men chuyển và thuốc ức chế thụ thể angiotensin II.
Đây là các thuốc đã được chứng minh là có tác dụng phòng ngừa các biến chứng tim mạch ở các bệnh nhân đái tháo đường. Việc lựa chọn thuốc nên dựa vào giá thành, các chỉ định bắt buộc và các chống chỉ định.
Điều trị rối loạn lipid máu. Các bệnh nhân đái tháo đường cần được kiểm tra lipid máu, bao gồm cholesterol xấu (LDL-C), triglycerid và cholesterol có lợi (HDL-C) sau khi nhịn đói 10-12 giờ. Nên kiểm tra định kỳ lượng lipid máu 6-12 tháng 1 lần. Tuy nhiên, cần cân nhắc giữa lợi ích và giá thành, cũng như các tác dụng phụ có thể gặp khi dùng thuốc liều cao, hay dùng phối hợp thuốc để đạt được nồng độ LDL-C rất thấp.
Để phòng ngừa các biến chứng tim mạch cần ưu tiên đạt nồng độ LDL-C mục tiêu trước sau đó là nồng độ HDL-C và triglycerid. Điều trị bằng thuốc phải kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống. Mục tiêu điều trị rối loạn lipid máu là LDL-C < 2,6 mmol/l (100 mg/dl), triglycerid < 2,3 mmol/l (200 mg/dl) và HDL-C > 1,0 mmol/l (40 mg/dl).
Với hầu hết các bệnh nhân đái tháo đường, nồng độ LDL-C mục tiêu cần đạt được là < 2,6 mmol/l (100 mg/dl). Gần đây, một số nghiên cứu lớn cho thấy các bệnh nhân có nguy cơ cao (bệnh nhân ĐTĐ có bệnh ĐMV), nồng độ LDL-C tối ưu cần đạt được là < 2,1 mmol/l (80 mg/dl).
Lựa chọn thuốc điều trị tăng đông. Tình trạng tăng đông ở bệnh nhân đái tháo đường có thể ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch. Điều trị bằng aspirin có lợi trong phòng ngừa tiên phát và thứ phát cho các bệnh nhân đái tháo đường. Liều điều trị nên lựa chọn là liều có hiệu quả cao nhất với tác dụng phụ ít nhất. 
 
Theo BS. Nguyễn Lê Phương - Hasan Dermapharm

Tại sao biến chứng vẫn tìm đến người bệnh tiểu đường

Hiện nay, dù đã có thuốc hạ đường huyết nhanh, mạnh nhưng tỷ lệ di chứng nghiêm trọng của bệnh tiểu đường vẫn không giảm, thậm chí tăng! Lý do là gì?

Nếu so sánh với thập niên trước đây thì công việc của thầy thuốc điều trị bệnh tiểu đường rõ ràng nhẹ nhàng hơn xưa. Lý do là nhờ kỹ thuật chẩn đoán và phương tiện điều trị đã được cải thiện rất nhiều.
Nói cụ thể hơn, thuốc hạ đường huyết đang lưu hành tác dụng nhanh, mạnh, kéo dài và ít phản ứng phụ hơn thuốc thời trước. Nhưng điểm nghịch lý xưa nay trong bệnh tiểu đường vẫn tiếp tục tồn tại khi mà di chứng nghiêm trọng của bệnh tiểu đường vẫn không giảm, thậm chí tăng!
“Hư bột hư đường” vì thừa mỡ
Vì tên gọi là tiểu đường nên 10 người hết 9 tưởng bệnh này nhiêu khê vì hậu quả của rối loạn biến dưỡng chất đường. Đúng là bệnh khởi phát do đường huyết không còn trong vòng kiểm soát của tụy tạng khiến đường ở lại trong máu quá lâu, thay vì được huy động vào bắp thịt đúng tiến độ để sản sinh năng lượng cần thiết cho hoạt động của gia chủ.
Nhưng nếu tưởng chỉ vì thế mà bệnh có nhiều biến chứng nghiêm trọng thì sai. Bệnh tiểu đường khó chữa về lâu về dài vì bao giờ sớm muộn cũng dẫn đến rối loạn biến dưỡng chất béo!
Đó là lý do tại sao nhiều bệnh nhân tiểu đường thường gầy đi, thậm chí suy dinh dưỡng, nhưng lại tăng mỡ trong máu, đặc biệt là loại gây xơ vữa mạch máu, gây thuyên tắc vi mạch, như Triglyceride.
Chẳng những thế, nhiều bệnh nhân có thể mình hạc xương mai nhưng không ngờ là lá gan lại nhiễm mỡ kéo theo tăng men gan do tế bào gan bị phá vỡ và trám chỗ bởi tế bào mỡ, theo kết quả nghiên cứu gần đây ở Hoa Kỳ.
Chính vì thế mà thầy thuốc nhiều kinh nghiệm với bệnh tiểu đường bao giờ cũng theo dõi mỡ máu và men gan, thay vì chỉ tập trung vào đường huyết.
Mạch máu không vô cớ tắc nghẽn!
Cũng vì rối loạn biến dưỡng chất béo nhanh chân ăn theo nên bệnh tim mạch bao giờ cũng đồng hành với bệnh tiểu đường. Chuyên gia ngành tim mạch đã quả quyết là phía sau của hơn 50% trường hợp tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim là bàn tay phá hoại ngấm ngầm của bệnh tiểu đường.
Đáng nói hơn nữa là tỷ lệ tử vong của đối tượng vừa cao huyết áp vừa bị bệnh tiểu đường cao tối thiểu gấp 3 lần người tuy có bệnh tim mạch nhưng không vướng bệnh tiểu đường! Người có bệnh tim mạch vì thế cần được đồng thời tầm soát bệnh tiểu đường, thay vì chỉ chú trọng vào tim, vào mạch!
Ổn định khác xa hạ thấp
Điều đó cho thấy viên thuốc hạ đường huyết, dù hiệu quả thế nào, vẫn chưa là giải pháp rốt ráo. Nhờ nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian gần đây, thầy thuốc đều rõ di chứng của bệnh tiểu đường như cao huyết áp, đục thủy tinh thể, suy thận, viêm da, hoại tử mô mềm... tùy thuộc vào mức độ dao động của lượng đường trong máu.
Thống kê năm 2010 của các hãng bảo hiểm y tế ở CHLB Đức, khi so sánh với dữ liệu trong 3 năm qua, cho thấy số người nhồi máu cơ tim vì bệnh tiểu đường không giảm; bị tiểu đường dẫn tới mù mắt vì thoái hóa võng mạc tăng 5%; số nạn nhân phải đoạn chi vì hoại tử đầu chi do thuyên tắc mạch máu tăng 20%!
Các nhà nghiên cứu đã chứng minh là người tuy có đường huyết hơi cao hơn định mức bình thường nhưng ổn định ít bị biến chứng hơn đối tượng có lượng đường trong máu trồi sụt quá thường, lúc quá cao, khi quá thấp.
Từ nhận thức đó, nhiều thầy thuốc coi trọng quan điểm sinh học đã từ lâu tìm về cây thuốc và hoạt chất sinh học, như alpha lipoic acid, kẽm... để tận dụng công năng "2 trong 1" vừa hỗ trợ cho tác dụng của thuốc đặc hiệu, vừa bảo vệ các mặt trận hở sườn trong bệnh tiểu đường như mạch máu, thận, mắt, não, da... Họ không thể chọn giải pháp khác vì chỉ hạ đường huyết trong bệnh tiểu đường là không đủ.
Theo BS. Lương Lễ Hoàng - Dân Việt

Cách đơn giản để bệnh tiểu đường không “hỏi thăm”

Bạn cảm thấy bệnh tiểu đường rất xa vời với bạn? Đừng chủ quan! Thực tế ngày nào cũng có bệnh nhân tàn phế do biến chứng của căn bệnh này.

Tiểu đường đã trở thành một căn bệnh phổ biến, nghiêm trọng trong xã hội hiện nay đặc biệt là bệnh tiểu đường type 2.
Mặc dù căn bệnh này rất phổ biến nhưng chúng ta nên biết rằng nó hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng lối sống lành mạnh và ăn uống khoa học. Dưới đây là những lời khuyên giúp bạn phòng tránh mắc phải căn bệnh này:
1. Giảm cân
Giảm trọng lượng cơ thể là cách đơn giản nhất để đưa bạn ra khỏi vòng nguy hiểm của căn bệnh tiểu đường. Những người thừa cân hoặc béo phì có nguy cơ cao nhất mắc căn bệnh này. Theo các bác sĩ, ngay cả đối với bệnh tiểu đường type 2, chúng ta cũng có thể giảm được nguy cơ mắc bệnh bằng cách giảm cân.
Điều quan trọng là bạn kiểm soát được lượng calo bổ sung vào cơ thể mỗi ngày và chăm chỉ tập luyện thể thao đều đặn.
2. Ăn nhiều rau xanh
Nếu bạn thường ăn sáng với những đồ ăn nhiều dầu mỡ như bánh mì bơ, phomat bơ, khoai tây chiên… hãy đổi vị bằng món salad mỗi sáng. Bổ sung nhiều rau xanh thường xuyên là cách đơn giản nhất để phòng tránh bệnh tiểu đường. Đây cũng là cách hữu hiệu để giảm thiểu cân nặng, giữ lượng đường trong máu được ổn định.
3. Hạn chế đi xe
Chúng tôi không muốn nói là bạn không được đi xe nữa nhưng hãy hạn chế việc phụ thuộc vào xe quá nhiều mà không vận động bằng cách đi bộ hoặc đạp xe mỗi ngày. Hãy tận dụng mọi lúc mọi nơi để đi bộ như tránh đi thang máy mà thay vào đó hãy đi thang bộ hoặc để xe ở một nơi xa chỗ làm và đi bộ đến đó… Bên cạch việc cắt giảm calo thì tập luyện cũng có thể giúp bạn giảm cân và sử dụng insulin trong cơ thể hiệu quả hơn.
4. Bổ sung ngũ cốc nguyên hạt
Ăn một số loại ngũ cốc nguyên hạt cũng giúp ổn định và kiểm soát được lượng đường trong máu chúng ta. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, bổ sung ngũ cốc nguyên hạt thường xuyên sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2, đột quỵ, huyết áp cao, thậm chí là chống ung thư vú.
5. Làm bạn với cà phê
Bạn có thể không tin nhưng cà phê  lại thực sự giúp bạn tránh được bệnh tiểu đường rất tốt. Một số nghiên cứu cho thấy, cà phê hoặc đúng hơn là caffeine có thể ngăn ngừa bệnh tiểu đường một cách an toàn. Chúng ta nên uống đều đặn 1 ly cà phê mỗi sáng để phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh.
6. Bỏ qua thức ăn nhanh
Thức ăn nhanh là cơn ác mộng tồi tệ nhất trong cuộc chiến chống lại bệnh tiểu đường. Vì vậy, bạn nên hạn chế loại đồ ăn này bất cứ lúc nào có thể.
7. Khám bệnh thường xuyên
Cách phòng và chữa trị bệnh dễ dàng nhất là khám bệnh thường xuyên để phát hiện bệnh sớm. Bạn cần phải biết lượng đường trong máu bạn như thế nào, đặc biệt là trong gia đình bạn đã có người bị tiểu đường. Hãy xét nghiệm máu định kỳ và làm theo những lời khuyên của bác sĩ để phòng bệnh tốt nhất.
Theo Eva

Một số bệnh lý ở mắt do biến chứng của đái tháo đường

Ở bệnh nhân đái tháo đường nguy cơ bị biến chứng gây nên các bệnh về mắt như đục thủy tinh thể, võng mạc, glaucoma... là rất cao, nguy hiểm.

Chúng làm suy giảm thị lực, gây tàn phế, mất khả năng lao động của người bệnh. Ở các nước châu Âu và Mỹ, biến chứng mắt do bệnh đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở những người trong độ tuổi lao động.

Ngay khi được phát hiện đái tháo đường đã có khoảng 20% số bệnh nhân có biến chứng ở mắt, sau một thời gian có tới 75% số bệnh nhân sẽ bị biến chứng mắt.

Việc tầm soát và điều trị sớm bệnh đái tháo đường kết hợp sử dụng sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên có thể giúp phòng ngừa và cải thiện thị lực trước một số bệnh lý nguy hiểm trên?

Một số biến chứng ở mắt do đái tháo đường
Trong số những biến trứng của đái tháo đường thì biến chứng ở mắt dễ gặp nhất, vì mắt là một trong hai mô duy nhất trên cơ thể không phụ thuộc insulin. Khi bị đái tháo đường glucose - máu tăng cao nhưng lại không có sự kiềm chế của insulin, nên glucose dễ dàng xâm nhập và chuyển hóa thành sorbitol độc gây phồng tấy làm cho sợi và vỏ thủy tinh thể bị thoái hóa, dẫn tới đục thủy tinh thể
Ngoài gây đục thủy tinh thể, bệnh đái tháo đường còn là nguyên nhân gây một số bệnh lý khác như võng mạc, liệt mắt (nhìn đôi, sụp mi mắt), glaucome (tỷ lệ glaucome góc mở tiên phát ở người đái tháo đường gặp nhiều hơn so với ở người bình thường).
Theo Trần Thảo -  Gia đình & Xã hội

Can thiệp đa yếu tố để làm chậm biến chứng bệnh đái tháo đường

Những biến chứng do bệnh đái tháo đường gây nên là rất nguy hiểm và điều trị rất tốn kém mà không mang lại hiệu quả cao.

Đái tháo đường là một trong các thành phần của hội chứng chuyển hóa. Những biến chứng do bệnh đái tháo đường gây nên là rất nguy hiểm và điều trị rất tốn kém mà không mang lại hiệu quả cao.
Chính vì vậy nếu được sàng lọc, phát hiện sớm những người có rối loạn glucose máu trước khi xảy ra bệnh đái tháo đường (giai đoạn tiền đái tháo đường) sẽ rất có giá trị về mặt dự phòng, ít nhất cũng làm chậm giai đoạn tiền đái tháo đường sang đái tháo đường thực sự và sẽ có giá trị rất lớn về săn sóc y tế, kinh tế và xã hội.
Đã có nhiều các công trình nghiên cứu chứng minh dự phòng hoặc làm chậm xuất hiện bệnh đái tháo đường týp 2 là có thể làm được. Biện pháp can thiệp là giảm cân (trên 5% cân nặng trong năm đầu so với ban đầu) và tăng hoạt động thể lực ít nhất 30 phút/ngày. Người được chẩn đoán tiền đái tháo đường cần thay đổi lối sống, chế độ ăn uống cùng việc luyện tập thể lực.
- Can thiệp bằng thay đổi lối sống và sinh hoạt là biện pháp an toàn dễ phổ cập, kinh tế và có hiệu quả.
- Biện pháp can thiệp bằng thuốc đem lại hiệu quả có khi còn thấp hơn biện pháp can thiệp bằng thay đổi lối sống và sinh hoạt, không thật sự yên tâm vì những tác dụng phụ của thuốc, chi phí tốn kém, thời gian dùng thuốc của bệnh nhân sẽ dài hơn. Biện pháp dùng thuốc chỉ sử dụng khi can thiệp bằng thay đổi lối sống và sinh hoạt thất bại.
Những công trình nghiên cứu có giá trị đều chứng minh tiên lượng bệnh đái tháo đường, kể cả týp 1 và týp 2, đã được cải thiện là nhờ những can thiệp đa yếu tố. Kết quả sẽ càng cao nếu những tổn thương được phát hiện sớm, được điều trị đúng và kịp thời.
Ngày nay người ta coi những kết quả điều trị tốt là biện pháp tốt nhất dự phòng biến chứng cho người đã mắc bệnh. Trước đây người ta chỉ quan tâm đến việc làm hạ thấp nồng độ glucose máu (thường ở mức từ 13,0 mmol/l đến 15,0 mmol/l) là đạt yêu cầu điều trị, ngày nay tiêu chí này đã thay đổi.
Điều trị người bệnh đái tháo đường ngày nay ngoài chỉ tiêu về glucose máu còn phải chú ý điều chỉnh lipid máu, quản lý số đo huyết áp, điều chỉnh các rối loạn đông máu, phát hiện sớm các biến chứng để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.
Theo Dự án phòng chống bệnh đái tháo đường Bệnh viện Nội tiết TW
Sức khỏe & Đời sống

Trái cây cho người đái tháo đường

Người đái tháo đường nên ăn trái cây nhiều chất xơ, lượng đường fructose cao, chỉ số đường huyết thấp và chỉ ăn theo nhu cầu năng lượng.

Nguồn dinh dưỡng
Trái cây là nguồn cung cấp nhiều dưỡng chất quý báu như:
- Các loại vitamin A, B, C…
- Muối khoáng như Ca++, Mg++, K+…
- Đường và nhiều chất xơ.
- Các hóa chất sinh học như polyphenol, resveratrol và quercetin, pectin… giúp cho cơ thể chống lại bệnh ung thư, bệnh tim mạch và béo phì…
Với những tính năng có lợi cho sức khỏe như thế thì không có lý do gì nghiêm cấm người đái tháo đường ăn trái cây mỗi ngày. Vấn đề mà người đái tháo đường lo ngại khi ăn trái cây là họ sợ “chất ngọt có trong trái cây sẽ làm cho đường huyết của mình gia tăng và trở nên khó kiểm soát”. Các mối quan ngại khác: không biết nên ăn loại trái cây nào, ăn bao nhiêu và khi nào ăn thì tốt…
- Từ trái cây tươi, người ta có thể đem sấy hay phơi khô để dùng quanh năm, làm sinh tố hoặc ép lấy nước uống, bảo quản lạnh, đóng lon, ướp đường… rất đa dạng.
Một số khái niệm cần biết
- Chất xơ: có nhiều ở lớp vỏ, lớp dưới vỏ, phần xơ thịt và hạt. Chất xơ có khả năng làm chậm quá trình hấp thu đường, tránh hiện tượng tăng đường huyết quá nhiều sau ăn. Các loại trái cây giàu chất xơ (kể cả lớp vỏ): táo (2,5%), lê (2,1%), mơ (2,1%), trái kiwi (2,1%), quả lựu (3,4%) và trái bơ (6,7%)…
- Chất đường: hai loại đường có nhiều trong trái cây là glucose và fructose. Ăn trái cây chứa nhiều đường glucose sẽ không có lợi cho người ĐTĐ vì nó sẽ làm tăng đường huyết và tăng nhu cầu sử dụng insulin. Khác với glucose, quá trình hấp thu và chuyển hóa đường fructose không đòi hỏi sự hiện diện của insulin. Vì thế, người đái tháo đường nên chọn loại trái cây nào có nhiều fructose và ít glucose (tỷ lệ fructose/glucose lớn hơn 2) như: táo, lê, ổi và xoài…
- Chỉ số đường huyết-CSĐH (glycemic index- GI): chỉ số phản ánh tốc độ gia tăng đường trong máu sau khi dùng một loại thực phẩm nào đó. Người ta lấy bánh mì trắng hoặc glucose làm chuẩn (GI=100) để phân chia CSĐH của thực phẩm thành ba mức: cao (GI từ 70 trở lên), trung bình (GI từ 55-69), thấp (GI từ dưới 55). Nếu ăn trái cây có CSĐH cao sẽ làm cho đường huyết tăng cao ngay sau ăn. Vì thế, người ĐTĐ nên chọn ăn loại trái cây có CSĐH càng thấp càng tốt.
Điều cần nên lưu ý là CSĐH không tương ứng với vị ngọt. Có nghĩa là không nên dựa vào độ ngọt khi nếm một loại trái cây nào đó để suy ra CSĐH của nó. Trái cây ngọt không đồng nghĩa là nó có CSĐH cao; và ngược lại trái cây lạt không có nghĩa là có CSĐH thấp
- Suất trái cây: là khối lượng của một loại trái cây hay nước ép nào đó mà sau khi ăn vào có khả năng cung cấp 15g chất đường, tương đương 60Kcalo.
- Trong chế độ ăn hàng ngày, không phải lúc nào cũng có thể cân đo đong đếm chính xác được. Vì thế, ta chỉ có thể ước lượng trung bình một suất trái cây khoảng bao nhiêu mà thôi.
Nên ăn mấy suất trái cây mỗi ngày?
Mỗi ngày người ĐTĐ có thể ăn từ 2 - 4 suất trái cây tùy theo nhu cầu năng lượng trong ngày.
Những người có nhu cầu năng lượng 1.200 - 1.600 Kcalo/ngày: 2 suất.
Đó là các đối tượng sau:
- Phụ nữ tầm vóc nhỏ con hoạt động nhiều.
- Phụ nữ tầm vóc nhỏ đến trung bình muốn giảm cân.
- Phụ nữ tầm vóc trung bình không làm việc gì nhiều.
Những người có nhu cầu năng lượng 1.600 - 2.000Kcalo/ ngày: 3 suất.
- Phụ nữ tầm vóc to muốn giảm cân.
- Nam giới nhỏ con có cân nặng bình thường theo chiều cao.
- Nam tầm vóc trung bình không làm việc gì nhiều.
- Nam tầm vóc trung bình hoặc lớn con muốn giảm cân.
Những người có nhu cầu năng lượng 2.000 - 2.400Kcalo/ngày: 4 suất.
- Nam tầm vóc trung bình hoặc lớn con vận động hoặc lao động nhiều.
- Nam lớn con có cân nặng phù hợp chiều cao.
- Phụ nữ tầm vóc trung bình đến lớn con phải vận động hoặc lao động nhiều.
Nên ăn vào lúc nào cho tốt?
- Theo nghiên cứu ở Mỹ, ăn trái cây một giờ trước bữa ăn có tác dụng giảm béo và giúp tiêu hóa hiệu quả.
- Nếu ăn cơm no rồi mà ăn thêm trái cây, lượng đường tổng cộng trong bữa ăn sẽ tăng, đường huyết tăng cao và nhanh không có lợi cho sức khỏe, nhất là người bị đái tháo đường.
- Nên ăn vào thời điểm giữa hai bữa ăn, khoảng cách giữa hai lần ăn trái cây nên cách nhau 6 giờ.
Lưu ý:
Chọn loại trái cây tươi tốt hơn là loại khô, đông lạnh hay nước ép. Nếu đường huyết trong giai đoạn tăng khó kiểm soát thì nên hạn chế ăn trái cây.
Hãy biết lắng nghe cơ thể nói, bởi vì thụ cảm của mỗi người không giống nhau. Chẳng hạn, có người chỉ ăn một trái cam nhỏ cũng làm đường huyết tăng cao. Trái lại, có người có thể ăn 2 - 3 trái chuối mà không hề hấn gì, mặc dù người ta biết là chuối có CSĐH cao hơn cam.
Theo BS CKI. Nguyễn Thanh Hải
Sức khỏe & Đời sống/
Glycemic Index Foundation

Dấu hiệu nhận biết bạn bị bướu cổ

Bướu cổ hầu như không gây nên những triệu chứng cụ thể và nó quá nhỏ để chúng ta có thể cảm nhận được.

Chúng thường chỉ được phát hiện qua các đợt kiểm tra sức khoẻ hoặc các cuộc xét nghiệm
khác như chụp CT, siêu âm…
Nếu cái bướu của bạn lớn, bạn có thể nhận biết được chúng hoặc bạn có thể để ý thấy cổ của bạn bị cứng và bành ra. Nhưng trong nhiều trường hợp, khi bướu chỉ mới phát sinh hoặc còn nhỏ thì hầu như bạn không thể cảm nhận được. Tuy nhiên, có thể nhận biết sự có mặt của nó qua các biểu hiện:
- Cảm thấy đau cổ họng hoặc luôn cảm giác cổ họng bị ứ đầy.
- Khó nuốt
- Khó thở
- Cảm thấy hồi hộp, có những cơn đau tim thoáng qua, đổ mồ hôi nhiều, giảm cân hay có các triệu chứng của thừa hormone…
- Mệt hoặc căng thẳng, trí nhớ giảm sút, bị táo bón, da khô, cảm thấy lạnh…
Nếu có những biểu hiện này thì bạn phải đến ngay bệnh viện để khám và xét nghiệm. Phần lớn các bướu này thuộc loại lành nhưng cũng không loại trừ nó là ung thư. Để có thể xác định rõ, liệu bướu đó có phải là ung thư hay không thì cách duy nhất là thực hiện biện pháp sinh thiết.
Nguy cơ bướu là ung thư càng cao nếu bạn có thêm các triệu chứng:
- Có một cái bướu cứng khác hoàn toàn với những u bướu khác.
- Cái bướu này tiếp tục phát triển theo từng tuần, từng tháng.
- Nó không di chuyển khi bạn sờ vào nó.
- Cái bướu sưng phồng lên trong cổ.
- Giọng khàn khàn và rin rít.
Dù trong trường hợp nào thì bạn cũng phải tới ngay bệnh viện để xét nghiệm. Cần phát hiện bệnh sớm để có những xử lí kịp thời.
Theo Hoàng Bách - VTV