Hiển thị các bài đăng có nhãn điều trị bệnh tiểu đường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn điều trị bệnh tiểu đường. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2015

Biến chứng ở mắt của bệnh nhân đái tháo đường

Đường máu cao gây tổn thương, phá hủy thành các mao mạch đáy mắt, ảnh hưởng đến tình thấm các mao mạch này, hậu quả là dịch từ trong lòng mạch thoát ra ngoài gây xuất huyết và phù nề.

Bệnh võng mạc do đái tháo đường
Cơ chế và triệu chứng của bệnh võng mạc đái tháo đường
Đường máu cao gây tổn thương, phá hủy thành các mao mạch ở đáy mắt, ảnh hưởng đến tình thấm các mao mạch này, hậu quả là dịch từ trong lòng mạch thoát ra ngoài gây xuất huyết và phù nề. 
Nếu gây phù ở hoàng điểm thì có thể làm giảm thị lực rất nhiều. Bản thân các mao mạch bị phá hủy và bị tắc gây thiếu máu ở võng mạc, khi đó cơ thể sẽ có phản ứng sinh ra một số yếu tố kích thích sự hình thành các mao mạch mới phát triển mạnh cả vào hậu phòng (khoang chứa dịch kính). 
Các mạch máu mới này rất dễ vỡ và thường gây xuất huyết nặng từ giai đoạn sớm làm đục dịch kính. Các mạch máu mới cũng gây ra các vết sẹo xơ ở võng mạc và trong quá trình liền sẹo nó có thể co rút gây ra bong võng mạc làm mất thị lực vĩnh viễn. 
Hậu quả của phù hoàng điểm, đục dịch kính, bong võng mạc... là mắt bị giảm hoặc mất khả năng thu nhận các tín hiệu ánh sáng, biểu hiện lâm sàng là giảm thị lực hoặc mất thị lực hoàn toàn.
Tùy thuộc vào mức độ tổn thương các mạch máu ở võng mạc mà người ta chia bệnh võng mạc ở BN ĐTĐ làm 2 giai đoạn sớm là bệnh võng mạc không tăng sinh (chưa có các mạch máu mới) và muộn là bệnh võng mạc tăng sinh (đã có các mao mạch mới). 
Điều đặc biệt nguy hiểm là đa số các BN ĐTĐ không thấy có bất cứ triệu chứng gì về mắt cho đến khi đột nhiên bị mất thị lực. Khi đó dù có được điều trị rất tích cực và tốn kém thì khả năng bảo tồn được thị lực là rất nhỏ, phần lớn các BN sẽ bị mù vĩnh viễn. 
Chính vì vậy các BN ĐTĐ cần đi khám mắt định kỳ, tốt nhất là 6 tháng 1 lần và được khám bởi bác sĩ chuyên khoa mắt.
Điều trị
Trong thời gian gần đây đã có nhiều tiến bộ lớn trong điều trị bệnh võng mạc do ĐTĐ. Nếu chỉ có bệnh võng mạc không tăng sinh đơn thuần thì không cần điều trị gì đặc hiệu ngoài việc phải kiểm soát tốt đường máu và huyết áp và theo dõi thường xuyên tiến triển của bệnh võng mạc. 
Điều may mắn là điều trị ở giai đoạn này thường có kết quả tốt và đôi khi có thể phục hồi được thị lực cho người bệnh. 
Nếu không có điều kiện theo dõi hoặc khi BN có thêm những yếu tố nguy cơ khác như suy thận hoặc tăng huyết áp thì có thể chủ động điều trị laser nhằm hàn lại các chỗ thành mạch bị rò rỉ, hạn chế hiện tượng phù và xuất huyết, chặn đứng sự lan rộng của tổn thương.
Với bệnh võng mạc tăng sinh: Phương pháp điều trị laser diệt bớt các tân mạch ở những BN có bệnh võng mạc tăng sinh, hạn chế nguy cơ các mạch máu này bị vỡ có thể phòng được mù lòa. 
Một hướng khác của điều trị laser là gây ra các vết sẹo nhỏ ở vùng thiếu máu để ngăn ngừa không cho các tân mạch xuất hiện và phát triển thêm. 
Điều trị laser có thể chỉ tập trung vào vùng hoàng điểm bị phù hoặc toàn bộ võng mạc và theo nhiều nghiên cứu, phát hiện bệnh võng mạc càng sớm thì điều trị càng có hiệu quả.
Với những BN đã có bong võng mạc hoặc xuất huyết rất nhiều thì điều trị laser không có hiệu quả, khi đó cần phẫu thuật cắt thủy tinh thể để giải phóng các sẹo hoặc dịch đục trong mắt. Phẫu thuật càng sớm bởi các bác sĩ chuyên khoa thì kết quả sẽ tốt hơn. Ngày nay có thể tiến hành gắn lại võng mạc nhưng thủ thuật này rất khó và chỉ có thể tiến hành được ở khoảng một nửa số BN bị bong võng mạc.
Thiên đầu thống (Glaucoma):
Các BN ĐTĐ có nguy cơ bị thiên đầu thống cao gấp 1,4 lần người bình thường, nguy cơ này sẽ tăng lên ở những BN tuổi cao và có thời gian bị bệnh ĐTĐ dài. Thiên đầu thống một hoặc cả hai mắt xảy ra khi áp lực trong mắt tăng lên và trong phần lớn các trường hợp, dịch kính sẽ bị thoát ra ngoài. 
Áp lực cao sẽ chèn ép vào các mạch máu nuôi võng mạc và dây thần kinh thị giác (dây thần kinh số I), hậu quả là vùng võng mạc và dây thần kinh bị phá hủy gây mất thị lực. Các BN bị thiên đầu thống thường có triệu chứng đau đầu nhiều, đặc biệt đau dữ dội hốc mắt, đo nhãn áp thường rất cao.
Để điều trị thiên đầu thống cần phải phẫu thuật làm giảm áp lực trong mắt, một số trường hợp phải mổ cấp cứu. Tuy một số thuốc cũng có tác dụng làm giảm áp lực trong mắt nhưng chỉ nên dùng để điều trị tạm thời trong khi chờ phẫu thuật.
Đục thủy tinh thể
Biến chứng võng mạc ở bệnh nhân đái tháo đường
Đục thủy tinh thể là bệnh có thể gặp nhiều ở những người không bị ĐTĐ, nhất là ở những người cao tuổi. Tuy nhiên người bệnh ĐTĐ có nguy cơ bị đục thủy tinh thể cao hơn 1,6 lần và đục thủy tinh thể xuất hiện ở lứa tuổi trẻ hơn. Đôi khi đục thủy tinh thể xuất hiện ở các BN ĐTĐ týp 1 trẻ tuổi và tiến triển rất nhanh, thường là sau một giai đoạn kiểm soát đường máu kém.
Đục thủy tinh thể nặng sẽ ngăn cản ánh sáng đi qua, gây giảm thị lực, đồng thời cũng gây khó khăn cho việc khám và phát hiện bệnh võng mạc ở các BN ĐTĐ vì rất khó có thể quan sát được đáy mắt và hậu phòng.
Trường hợp bị đục thủy tinh thể nhẹ thì có thể chỉ cần đeo kính râm thường xuyên khi đi nắng là đủ, ngoài ra có thể nhỏ mắt các loại thuốc có tác dụng hạn chế tiến triển của đục thủy tinh thể như Catastat. Nếu đục thủy tinh thể nặng, có ảnh hưởng nhiều đến thị lực thì cần phải mổ thay thủy tinh thể. Lưu ý là ở một số BN mổ thay thủy tinh thể không cải thiện được thị lực do BN có đồng thời cả bệnh võng mạc nặng.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

Khi tuyến giáp trục trặc

Tuyến giáp giữ vị trí quan trọng trong việc sản xuất các hormone có tác dụng kiểm soát quá trình trao đổi chất để cung cấp năng lượng nuôi cơ thể.




Tuy nhiên, trước nay, ngoài bệnh bướu cổ khá quen thuộc, rất ít người biết chỉ cần tuyến giáp “chấp chới” rối loạn, toàn thân đã “não nề” chưa kể những nguy hiểm khi tuyến giáp cường hay suy….
TS-BS Nguyễn Hoài Nam - Giảng viên trường Đại học Y dược TP.HCM chia sẻ với bạn đọc xung quanh vấn đề này.
Thực phẩm từ đậu nành không tốt cho bệnh bướu cổ 
Xin BS cho biết tuyến giáp là gì? Tầm quan trọng của tuyến giáp đối với cơ thể ra sao?
Tuyến giáp là một tuyến nội tiết lớn nhất của cơ thể. Đàn ông thường có tuyến giáp lớn hơn phụ nữ. Người phương Tây thường có tuyến giáp lớn hơn người châu Á, phụ nữ khi có thai thì tuyến giáp cũng to hơn khi không có thai. Tuyến giáp có thùy phải và thùy trái kèm một eo tuyến giáp và nằm ngay vùng trước cổ. Vì vậy, khi tuyến giáp bị bướu người ta hay gọi là bướu cổ.
Tuyến giáp cung cấp hormone tuyến giáp gọi là T3 và T4, rất cần thiết cho hoạt động của cơ thể, tham gia vào sự tăng trưởng và phát triển của con người.
Được biết, sự mệt mỏi, tăng cân, cảm giác ớn lạnh, không thể tập trung suy nghĩ hoặc lúc nào cũng chảy mồ hôi, hồi hộp… là những dấu hiệu báo động tuyến giáp không bình thường. BS có thể nói rõ hơn về những triệu chứng này?
Những triệu chứng trên biểu hiện sự suy giảm của hoạt động tuyến giáp, thường gọi là suy giáp. Bệnh suy giáp thường là bẩm sinh, có khi là mắc phải do bướu giáp lớn chèn ép mô tuyến giáp lành, hay sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp để điều trị ung thư tuyến giáp. Bệnh nhân thường bị béo phì, ớn lạnh cơ thể, mệt mỏi, rối loạn kinh nguyệt, giảm ham muốn và khả năng tình dục.
Một trong những nguyên nhân gây ra rối loạn tuyến giáp phổ biến nhất là chứng Hashimoto. Hội chứng này là gì?
Bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto là một dạng bệnh tự miễn của tuyến giáp. Bệnh này có khi phát triển thành bướu giáp, có khi không. Mô tuyến giáp trong bệnh này rất cứng, có nhiều mạch máu, đụng vào là chảy máu. Bệnh có thể gây ra hội chứng cường giáp hay suy tuyến giáp tùy thể loại. 
Bệnh rất khó điều trị, đôi khi ngoài các phương pháp sử dụng hormone tuyến giáp đối với bệnh nhân suy giáp hay thuốc chống cường giáp khi bệnh nhân có hội chứng cường giáp, còn phải sử dụng thêm các loại thuốc ức chế miễn dịch và nhất là phải sử dụng corticoide trong thời gian dài với nhiều tác dụng phụ không mong muốn. Bệnh có gây ra các dị tật bẩm sinh ở thai nhi hay không thì còn nhiều tranh cãi, các nhà khoa học cũng chưa kết luận chính thức.
Vì sao cùng là tuyến giáp nhưng có người bị suy, có người lại bị cường? Dựa vào dấu hiệu nào để phân biệt suy giáp và cường giáp?
Ngoài các triệu chứng lâm sàng chỉ điểm về suy giáp như đã nói ở phần trên, các triệu chứng của hội chứng cường giáp thường cho ta thấy là bệnh nhân hay hồi hộp, tim đập nhanh, sụt cân nhanh mặc dù ăn uống khá nhiều, hay đổ mồ hôi, da khô, lông dễ rụng, tay run nhẹ, mất ngủ v.v… Cũng rất khó nói ai dễ bị cường giáp hay dễ bị suy giáp. Tuy nhiên cường giáp thường xảy ra ở phụ nữ có bướu tuyến giáp, có yếu tố gia đình: con gái trong gia đình có mẹ hay chị gái bị bệnh này thường có tần suất mắc bệnh cao.
Nếu không chữa trị, suy tuyến giáp có thể làm tăng lượng cholesterol trong máu và khiến nạn nhân có nguy cơ bị đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim. Trong trường hợp nặng, sự thiếu hụt hormone trầm trọng có thể khiến người bệnh bất tỉnh và thân nhiệt giảm ở mức nguy hiểm đến tính mạng. Tăng tuyến giáp mà không được chữa trị đúng cách có thể gây ra những hệ lụy nguy hiểm về tim mạch và khiến xương dễ gãy. Riêng phụ nữ mang thai mà bị bệnh suy hay cường giáp thì có thể sinh non, sẩy thai. Điều này có đúng không, thưa BS?
Đúng vậy, tuy nhiên, việc tăng cholesterol ở người bị hội chứng cường giáp cũng không đáng kể nên nguy cơ xơ vữa động mạch ở những bệnh nhân bị hội chứng cường giáp là không cao.
Nhiều người cho biết khi bị bệnh tuyến giáp, họ phải uống hormone suốt đời (để tăng hoặc để giảm) và họ bị phụ thuộc vào lượng hormone này. Đây có phải là phương pháp tối ưu? Trường hợp nào thì được chỉ định phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp?
Nếu bệnh nhân bị suy giáp, dù bẩm sinh hay mắc phải thì đều phải uống hormone tuyến giáp đến hết đời. Mỗi ngày một viên Thyroxin giá khoảng hơn 1.000đ. Với bệnh nhân bị cường giáp phối hợp với bướu giáp thì phải sử dụng thuốc kháng giáp tổng hợp cho đến khi trở về bình giáp, thông thường là từ ba-sáu tháng và sau đó tiến hành phẫu thuật cắt bỏ bướu giáp. Nếu sau mổ, bệnh tiến triển tốt thì không cần phải uống thuốc. Trường hợp phải cắt toàn bộ tuyến giáp do ung thư tuyến giáp thì sau phẫu thuật, bệnh nhân phải uống hormone tuyến giáp đến hết đời, mỗi ngày một viên.
Ung thư tuyến giáp có phải do những bệnh về tuyến giáp ở trên (suy giáp, cường giáp, rối loạn tuyến giáp, viêm giáp Hashimo) gây ra hay không, thưa BS?
Ung thư tuyến giáp là một bệnh hay gặp, bệnh ít khi kết hợp với viêm tuyến giáp Hashimoto và ít gây ra rối loạn chức năng tuyến giáp. Còn về nguyên nhân và cách phòng chống thì cho đến nay y học chưa lý giải được.
Có thể lý giải như thế nào khi nhân viên một đơn vị kiểm ra sức khỏe định kỳ hàng năm và đồng loạt có vấn đề về tuyến giáp, như bướu nhân tuyến giáp? Liệu có phải là do vấn đề dinh dưỡng hay không? Phòng ngừa bệnh lý tuyến giáp có khó không, thưa BS?
Bướu giáp thể nhân, nhất là những nang nhỏ giống như u nang buồng trứng hay u nang tuyến bã trên cơ thể là bệnh thường gặp ở phụ nữ. Đường kính nhỏ, có khi chỉ 0,5cm. Ngày xưa những bướu này khó phát hiện. Bệnh nhân nên tới chuyên khoa nội tiết khám, siêu âm kỹ hoặc chọc dò bằng kim nhỏ (FNA) để xác định, nếu không phải là ung thư tuyến giáp thì không phải lo lắng nữa.
Trong việc phòng ngừa bệnh lý tuyến giáp, vai trò của dinh dưỡng rất quan trọng, nên ăn đủ chất, trong đó có iốt. Tuy nhiên, không nên ăn nhiều iốt quá, vì nếu hàm lượng iốt cao cũng dễ gây bướu giáp. Tránh ăn nhiều thực phẩm có chất gây bướu giáp như bắp cải, sữa đậu nành v.v…
Xin cám ơn BS.


Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

Cách giảm đường trong máu cho người bệnh tiểu đường

Cách cắt giảm đường cho bữa ăn của người tiểu đường
Có hai phương án cơ bản:
Hoặc chọn món ăn không cung cấp quá nhiều đường như cơm, bánh mì… Hoàn toàn đúng trên lý thuyết, nhưng lại không dễ áp dụng trong thực tế vì nhiều người đã quen lựa chọn cơm là món ăn chắc dạ. Thiếu cơm thì ăn đủ món vẫn không có cảm giác no. Cách này vì thế khó áp dụng lâu dài.
Cách giảm đường trong máu cho người bệnh tiểu đường.Cách giảm đường trong máu cho người bệnh tiểu đường
Hoặc chọn thực phẩm có hoạt chất nào đó đóng vai trái độn để chất đường từ bữa ăn được hấp thu vào máu một cách hòa hoãn. Cách này tưởng khó nhưng lại dễ thực hiện nếu người bệnh tiểu đường biết cách áp dụng chất xơ có nhiều trong rau cải, mễ cốc.
Với người bệnh tiểu đường, khẩu phần có nhiều rau cải dưới dạng ăn sống, hấp hoặc luộc nhanh (để tránh thất thoát sinh tố) có nhiều lợi ích, nhờ chất xơ:
Không bị phân hủy trong dạ dày và ruột non nên còn nguyên khi xuống đến ruột già. Nhờ đó khối chất phế thải trong ruột già có đủ dung tích để gây nhu động cần thiết cho chức năng đại tiện. 
Khẩu phần dồi dào chất xơ vì thế có tác dụng nhuận trường cho người bệnh tiểu đường vốn có khuynh hướng táo bón phần vì thiếu nước, phần vì dễ bị rối loạn chất điện giải do hậu quả của đường huyết tăng cao. Thêm vào đó, biện pháp nhuận trường bằng chất xơ bao giờ cũng dễ chịu và an toàn hơn thuốc tẩy xổ vì không gây tổn hại trên niêm mạc ruột già.
Có tác dụng "trấn an" niêm mạc dạ dày nên góp phần chống cảm giác đói bụng của người bệnh tiểu đường. Vì thế, bữa ăn chiều nên có nhiều chất xơ để người bệnh không bị mất ngủ vì cồn cào suốt đêm.
Hút độc chất nảy sinh từ phản ứng lên men trong khung ruột và qua đó ngăn ngừa nhiều bệnh chứng nghiêm trọng thường đi kèm với bệnh tiểu đường như viêm trực tràng, trĩ và thậm chí ung thư ruột già.
Kéo chất mật từ gan đổ xuống khung ruột ra ngoài cho nhanh. Chính nhờ không thừa mật trong ruột mà ung thư ruột già khó thành hình. Khẩu phần dồi dào chất xơ là phương tiện gián tiếp phòng chống tình trạng tăng chất mỡ trong máu, mối nguy hàng đầu của người bệnh tiểu đường vì dẫn đến đủ loại biến chứng, từ xơ vữa mạch máu cho đến thoái hóa võng mạc.
Những lưu ý khi lựa chọn chất xơ cho bệnh nhân bị tiểu đường
Chất xơ không chỉ có trong rau cải mà cũng rất dồi dào trong nấm sấy khô, rong biển, mè đen. Chính vì thế, nhiều bác sĩ thường khuyên người bệnh phối hợp các món này để mượn tác dụng ổn định đường huyết của nấm đông cô, thông mạch của nấm mèo, và điều hòa chức năng tuyến giáp của rong biển.
Chất xơ không cần phải có lượng cao mới tác dụng. Trái lại, quá nhiều chất xơ dễ sinh đầy bụng. Nhu cầu hàng ngày để không bị táo bón, phòng ngừa bệnh biến dưỡng cũng như giải độc cho cơ thể chỉ là 30g. Hàm lượng đó hoàn toàn khả thi nếu trong mỗi bữa ăn có khoảng 100g rau cải.
Không riêng với bệnh tiểu đường, rất nhiều bệnh chứng nghiêm trọng thành hình một cách oan uổng chỉ vì chế độ dinh dưỡng thiếu chất xơ.


Sữa chua - cách rẻ tiền ngừa bệnh tiểu đường

Nghiên cứu từ Trường Y tế cộng đồng Harvard ở Mỹ, nhận định rằng thực phẩm quen thuộc này có thể mang lại một cách thức dễ dàng và rẻ tiền để nâng cao chất lượng sống của người có tuổi.
suachua-7712-1416973055.jpg
Ảnh: greenprophet.
Theo Forbes, nhóm nghiên cứu tìm hiểu khoảng 200 nghìn nam giới và phụ nữ, kéo dài trong 30 năm và ghi lại thông tin chi tiết về thực đơn của họ. Tất cả những người này đều không bị tiểu đường ở đầu thời điểm nghiên cứu, đến khi nghiên cứu kết thúc, có hơn 15.100 người đã mắc tiểu đường tuýp 2. 
Phân tích chế độ ăn cho thấy không có mối liên quan nào giữa căn bệnh này và tổng lượng sữa ăn vào hàng ngày. Tuy nhiên, sữa chua dường như đã giúp ngăn ngừa bệnh.
Khi bổ sung dữ liệu từ các nghiên cứu khác, nhóm khoa học có được số liệu của khoảng gần nửa triệu người. Nó cho thấy cho thấy chỉ cần ăn 28 gram sữa chua mỗi ngày - bằng khoảng 1/4 hộp sữa chua nhỏ - cũng có thể giảm 18% nguy cơ mắc tiểu đường tuýp 2.
Tiểu đường tuýp 2 - dạng tiểu đường được tìm hiểu trong nghiên cứu này - phát sinh mạnh do tình trạng béo phì. Nó thường xuất hiện ở tuổi trung niên và qua thời gian làm xuất hiện các biến chứng chết người hoặc gây tàn phế, như mù lòa, đau tim hay đột quỵ.
Người ta cho rằng vi khuẩn có ích trong sữa chua đã giúp cho sự trao đổi chất thuận lợi hơn, đồng thời loại bỏ những độc tố vốn góp phần gây nên hiện tượng béo phì. Cũng có thể chính những người ăn sữa chua thường xuyên coi nó là món tráng miệng và vì thế ăn ít đồ ngọt hơn những người khác. Nói cách khác, việc ăn sữa chua là một phần của lối sống lành mạnh hơn, do đó làm giảm thiểu nguy cơ mắc tiểu đường.
Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tiếp tục tìm hiểu liệu bản thân sữa chua có trực tiếp làm giảm nguy cơ bị tiểu đường hay không.


Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Những loại rau dành cho người mắc bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường là một trong những rối loạn sức khoẻ phổ biến nhất trên toàn thế giới. Đã có nhiều loại thuốc cũng như các loại thực phẩm dành cho nhiều bệnh nhân tiểu đường.

Vậy làm thế nào để ngăn chặn căn bệnh này với nguồn thực phẩm thiên nhiên. Hãy cùng nhau điểm danh các loại rau ngăn chặn bệnh tiểu đường một cách hiệu quả nhất.
Bông cải xanh: Trong bông cải xanh có chứa các hợp chất quan trọng của sulforaphane giúp điều hòa lượng đường trong máu của cơ thể.
Rau bina: Loại rau lá xanh được biết đến với việc làm giảm nguy cơ của bệnh tiểu đường.
Những người ăn rau bina hàng ngày sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường gần 20 phần trăm.
Củ cải đường: Củ cải đường có khả năng điều chỉnh nồng độ đường trong máu cũng như mức huyết áp trong cơ thể.
Đây là một trong những loại rau cho bệnh nhân tiểu đường. Một ly nước ép củ cải đường có thể làm giảm huyết áp.

Khoai lang: Khoai lang chứa anthocyanins có khả năng kiểm soát đường huyết trong máu.
Khoai lang cũng rất giàu các hợp chất chống viêm và chống virus là thực phẩm tuyệt vời dành cho bệnh nhân tiểu đường.
Cải lá xoăn: Rất giàu chất sắt, kali và vitamin B6 cần thiết và K. Đây là những thực phẩm tuyệt vời chống lại bệnh tiểu đường ở người lớn.
Bắp cải: Bắp cải là một loại rau tuyệt vời có thể ngăn chặn bệnh tiểu đường.
Bắp cải giúp giảm lượng đường trong máu trong cơ thể và đảm bảo hoạt động của tuyến tụy.
Tuyến tụy giải phóng các enzyme quan trọng được gọi là insulin kiểm soát lượng đường trong máu trong cơ thể.
Măng tây: Măng tây là một thực phẩm tuyệt vời giúp tăng chức năng của tụy và thận.
Giúp tăng mức độ insulin trong cơ thể, do đó kiểm soát mức độ glucose trong máu.
Đậu: Đậu có chứa chất xơ và protein và có mức GI thấp hơn những thực phẩm khác.
Thực phẩm chỉ số đường huyết thấp hơn là thực phẩm tự nhiên chống lại bệnh tiểu đường.
Cà rốt: Cà rốt có chứa beta- carotene được chú ý vì khả năng kiểm soát lượng đường trong máu trong cơ thể rất tốt.
Cà rốt cũng chứa Vitamin A làm tăng chức năng của hệ miễn dịch.
Tỏi: Tỏi là một chất gia vị, là một trong những loại thực phẩm lành mạnh để ngăn ngừa bệnh tiểu đường.
Do thành phần dinh dưỡng đáng ngưỡng mộ có trong tỏi giúp điều hòa huyết áp, nồng độ cholesterol thấp hơn và lượng đường trong máu.

9 triệu chứng cảnh báo bạn có thể bị bệnh tiểu đường

1. Liên tục khát nước và muốn đi tiểu
Khi mức độ đường trong máu tăng, thận cố gắng để lọc nó khỏi máu của bạn. Khi có quá nhiều lượng đường trong máu, thận sẽ không thể lọc kịp. Lượng đường dư thừa được bài tiết vào nước tiểu của bạn cùng với các chất lỏng trong cơ thể. Hậu quả là bạn đi tiểu thường xuyên hơn vì cơ thể bạn cố gắng loại bỏ đường. Dần dần, nguy cơ này sẽ trở thành mãn tính và nhu cầu uống nước của bạn cũng tăng lên.
 1
Ảnh minh họa
2. Tăng cảm giác đói
Cơ thể bạn cần sử dụng insulin để đưa đường vào các tế bào. Khi bạn bị thiếu insulin, hoặc có khả năng kháng insulin, cơ thể của bạn không thể lưu trữ đường trong các tế bào. Các tế bào cần đường cho năng lượng, bởi vậy, nếu bạn không cung cấp đủ lượng đường, cơ thể bạn không có năng lượng cần thiết. Điều này gây ra cảm giác đói và cảm giác này tăng lên cho tới khi cơ thể được cung cấp đủ năng lượng.
 2
Ảnh minh họa
3. Yếu và mệt
Đói, suy nhược và mệt mỏi là kết quả khi mà cơ thể không sử dụng đúng năng lượng vì không thể đưa glucose (đường) vào trong tế bào. Do vậy, cơ thể không có đủ số lượng năng lượng để hoạt động tối ưu. Điều này dẫn đến tình trạng mệt mỏi và suy nhược xảy ra.
 3
Ảnh minh họa
4. Giảm cân nhanh chóng
Điều gì xảy ra khi cơ thể bài tiết glucose dư thừa khi bạn ăn mà không lưu trữ lại thành năng lượng cho sau này? Cơ thể đào thải lượng đường trong nước tiểu và làm giảm lượng calo được hấp thụ vào các tế bào. Điều này có nghĩa là bạn sẽ giảm cân nhanh chóng vì bạn không thể bù đắp lượng calo cho những gì đã mất.
 4
Ảnh minh họa
5. Ngứa ran hoặc tê chân tay
Ngứa ran hoặc tê liệt các chi, hay còn gọi là bệnh thần kinh tiểu đường là một dạng tổn thương thần kinh, thường phát sinh như là một dạng biến chứng của đường huyết cao. Khi nồng độ glucose trong máu cao, nó can thiệp với các tín hiệu truyền qua dây thần kinh. 
Ngoài ra, các thành các mạch máu nhỏ bị suy yếu, dẫn đến cắt đứt nguồn cung cấp máu đến các dây thần kinh. Điều này thường xảy ra bắt đầu với bàn chân.
 5
Ảnh minh họa
6. Giảm thị lực
Một bộ phận khác cực kỳ nhạy cảm với những tác động của lượng đường trong máu cao là đôi mắt. Khi bị bệnh tiểu đường, tròng mắt bạn có thể sưng lên và thay đổi hình dạng khiến tầm nhìn của bạn đột nhiên trở nên mờ.
 6
Ảnh minh họa
7. Các vết thương lâu lành
Trong một nghiên cứu của Đại học Warwick (Anh), các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, khi nống độ glucose tăng cao trong máu, nó sẽ khiến các vết thương, nhiễm trùng lâu lành hơn. Đó là vì lượng đường trong máu cao dẫn đến ức chế quá trình làm việc bình thường của hệ thống miễn dịch. Điều này làm giảm chức năng của các chữa lành vết thương của cơ thể.
 7
Ảnh minh họa
8. Dễ bị nhiễm trùng thường xuyên
Tương tự như tình trạng vết thương lâu liền, nhiễm trùng thường xuyên là một triệu chứng gây ra bởi lượng đường trong máu tăng. Phản ứng miễn dịch chậm lại khi lượng đường trong máu tăng có thể dẫn đến một khả năng là gia tăng nguy cơ bị nhiễm trùng thường xuyên, trầm trọng hơn so với những người có lượng đường trong máu ổn định hoặc bình thường.
 8
Ảnh minh họa
9. Khô, ngứa ngoài da
Cơ thể của bạn được cấu tạo với 50% -78% là nước. Do thường xuyên đi tiểu mà cơ thể dễ bị thiếu nước, bao gồm cả ở da, dẫn đến khô da. Da khô, ngứa hoặc có vảy là một triệu chứng phổ biến ngoài da của bệnh tiểu đường vì thận bài tiết nước từ các mô nhiều hơn.
 9
Ảnh minh họa